•Chuyện tình vọng phu và tượng đá bí ẩn ở Thanh Hóa
Từ bao đời nay, đền Ông nằm
bên bờ tả sông Mã, thuộc thị
trấn Quan Hóa và động Bà nằm
bên bờ hữu sông Mã thuộc xã
Hồi Xuân, huyện Quan Hóa,
được xem là một danh lam thắng cảnh “lạ” ở Thanh Hóa.
Trong đền Ông và động Bà có
hai bức tượng đá hình người
được đồng bào dân tộc Thái tôn
sùng như hai vị vua. Theo sử
tích ghi chép lại, đền Ông, động Bà xuất phát từ một mối tình
vọng phu hóa đá lưu danh muôn
thuở. Từ tượng đá lạ ở đền Ông
Đền Ông nằm dưới chân một
ngọn núi lớn ở thị trấn Quan
Hóa, hướng thẳng ra dòng sông
Mã anh hùng. Theo các cụ cao
niên trong làng, sử tích đền Ông có từ cách đây vài trăm năm, là
một nơi rất linh thiêng mà các
bậc vua chúa xưa luôn luôn phải
thờ phụng.
Ngay trước cổng đền có một
bức tượng đá hình người, theo như các cụ đời trước kể lại thì
bức tượng này rất kỳ lạ, trước
đây nhiều đoàn quân, tùy tùng
hay tướng cướp cũng phải
khiếp vía mỗi khi đi qua. Nếu
không xuống ngựa, ngả mũ sẽ bị hộc máu mồm ngay tức khắc.
Chính sự linh thiêng, huyền bí
này mà không một ai dám phá
dỡ và họ coi bức tượng đá hình
người kia như một bậc thánh
nhân, luôn luôn phải cung kính, phụng thờ.
Theo sử sách của người dân tộc
Thái, xung quanh sự ra đời và
tồn tại của đền Ông có rất nhiều
câu chuyện huyền bí từ xa xưa
mà hằng đêm bên bếp lửa nhà sàn, những cụ cố, cụ ông lại kể
cho con cháu nghe về một
truyền thuyết có sức sống
trường tồn, lan truyền đến tận
ngày nay.
Truyền thuyết kể rằng, từ xa xưa có hai ông vua Lào và Việt
Nam kết bằng hữu với nhau từ
nhỏ, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi,
sướng khổ có nhau. Lớn lên, họ
thường đi lại thăm viếng nhau
như một đôi bạn tri âm, tri kỷ. Để gắn bó tình bạn keo sơn mãi
không thay đổi, hai người ước
hẹn với nhau, khi nào con cái
lớn, hai nhà sẽ thành thông gia.
Và lời hứa của họ như được
thần linh ban phước. Vua Việt sinh được một hoàng tử khôi
ngô, tuấn tú và lanh lợi, còn vua
Lào sinh được một công chúa
xinh đẹp, thùy mị và nết na.
Mặc dù mỗi người làm vua một
nước, nhưng hai người vẫn giữ được mối tâm giao như xưa của
tình bạn và tình láng giềng hữu
nghị giữa hai đất nước. Mỗi lần
sang thăm Lào, vua Việt thường
đem hoàng tử đi theo, khi
hoàng tử và công chúa gặp nhau đã đem lòng yêu nhau.
Thực hiện lời ước nguyện trước
đây (nếu hai gia đình sinh con
trai, con gái sẽ kết duyên thành
vợ thành chồng). Thế là, con trai
vua Việt kết duyên cùng con gái vua Lào và trở thành phò mã ở
rể luôn bên nước Lào.
Từ khi làm rể nước Lào, phò mã
luôn luôn bận bịu với rất nhiều
công việc. Tháng năm qua đi,
nỗi nhớ đất nước, vua cha, anh em họ hàng ngày một da diết,
nhiều lần chàng xin phép vua
Lào cho hai vợ chồng được về
thăm, nhưng vua Lào một mực
không đồng ý vì ông chỉ có đứa
con gái duy nhất, sợ con về quê chồng sẽ không quay trở lại. Và để giữ chân phò mã, vua ra
chỉ thị cho đoàn tùy tùng quản
thúc, canh giữ nghiêm ngặt,
đồng thời ban một chỉ dụ chiếu
theo luật lệ của vương quốc Lào
nếu tự ý bỏ trốn hoặc không tuân theo mệnh lệnh của nhà
vua sẽ bị xử phạt nghiêm khắc
theo luật của vương quốc.
Nói về hai vợ chồng trẻ. Họ yêu
nhau tha thiết, không lúc nào
rời nhau, luôn luôn có nhau như hình với bóng. Công chúa luôn
hiểu được ý nghĩ của chồng,
mặt khác, nàng cũng muốn
được về thăm quê hương nhà
chồng. Hai người bàn bạc với
nhau, lúc nào có dịp sẽ trốn vua cha về Việt Nam.
Trong một dịp, hai vợ chồng
được vua cha cử đi kiểm tra
một số vùng (thuộc Xiêng
Khoảng – Sầm Tớ - Sầm Nưa
bây giờ). Trước lúc đi, vua dặn đoàn tùy tùng là những người
tâm phúc phải quản chặt hai
người. Nhưng khi đến Sầm Nưa,
lợi dụng lúc đoàn tùy tùng mệt
nhọc, phò mã mở tiệc chiêu đãi,
đợi lúc họ đã say bí tỉ, phò mã và công chúa bỏ lại ngựa và
hành lý xuyên rừng, vượt suối,
hướng về đất Việt mà đi không
ngừng nghỉ và cũng không quay
đầu lại.
Nói về đoàn tùy tùng, sau một ngày mới tỉnh rượu, không còn
thấy bóng dáng vợ chồng phò
mã nữa, lục tung đất Sầm Nưa
cũng chẳng thấy, họ đành quay
về kinh thành tâu với vua. Sau
khi biết được sự việc, vua Lào nổi giận, tức tốc cho người và
ngựa hướng thẳng về Việt Nam
đuổi theo.
Hai vợ chồng bỏ trốn đi mãi
cũng đã đến địa phận Mường Ca
Da (chân núi Pha Múng Mường, huyện Quan Hóa ngày nay) bên
bờ sông Mã.
Đợi một ngày, một đêm cũng
không thấy bóng dáng một
chiếc thuyền, hai vợ chồng đói
lả, không muốn công chúa phải chết oan vì mình, phò mã ôm vợ
và dặn ở lại hang Pha Múng
Mường (thuộc xã Hồi Xuân,
Quan Hòa ngày nay) chờ, rồi
một mình nối dây, vượt sông
kéo bè sang bờ bên kia làm cầu nối đưa vợ qua sông. Nhưng khi
phò mã vừa sang được sông thì
cả một vùng mây đen kéo đến
phủ tối cả một vùng, nước sông
Mã dâng lên cuồn cuộn, sóng bọt
tung trắng xóa, nước réo sôi gầm rú. Phò mã đứng bên bờ
sông tả, công chúa bên bờ sông
hữu cứ chờ đợi nhau, gọi tên
nhau mãi mãi trong vô vọng rồi
hóa thành tượng đá. Đến chuyện tình vọng phu hóa
đá ở động Bà
Sau ngày đó, khu vực bên bờ
sông hữu, dưới chân núi hang
Pha Múng Mường bà con quanh
vùng thấy xuất hiện một tượng đá lạ hình người phụ nữ hướng
về phía bên kia bờ sông tả mà
từ trước đến nay chưa từng
thấy.
Kỳ lạ hơn nữa là bên bờ tả sông
Mã, có một bức tượng đá hình người đàn ông đứng trơ trơ
hướng về phía bên bờ sông
hữu. Hiểu được sự việc và cảm
động trước mối tình son sắt,
thủy chung của vợ chồng hóa
đá, người dân cùng góp công góp sức xây dựng một ngôi đền,
gọi là đền Ông. Còn bức tượng
người phụ nữ gọi là động Bà.
Sau khi xây dựng xong, ngôi
đền này nức tiếng linh thiêng,
đoàn người ngựa nếu đi qua đây không ngả mũ, xuống ngựa
thì ngay lập tức người bị ngã,
kẻ bị hộc máu mồm. Vì thế,
nhiều đoàn quân đến đây đều
phải quần áo chỉnh tề, thắp
hương khấn vái và cầu xin phù hộ. Từ đó đến nay, không biết
bao nhiêu đời, hai bức tượng đá
hình người được nhân dân tôn
sùng thờ phụng.
Theo các cụ bách niên giai lão
trong làng, không ai có thể giải thích được sự xuất hiện của hai
bức tượng người kỳ lạ này mà
lại là một nam, một nữ. Bức
tượng nam mà người dân
thường quen gọi là tượng ông
đứng bên bờ tả, còn tượng bà với mái tóc dài đứng bên bờ
hữu. Chính sự ly kỳ này nên
người dân liên tưởng đến một
câu chuyện tình đẹp về vọng
phu hóa đá đứng chờ chồng.
Trước đây ở bản Lắng Na, xã Hồi Xuân có một người đàn ông tên
Lương bị ốm liệt giường, liệt
chiếu, uống không biết bao
nhiêu thuốc men vẫn không
khỏi. Một hôm, anh ta mơ thấy
một bức tượng đá. Sau khi liên tưởng đến bức tượng đá ở động
Bà, anh kể cho người nhà nghe.
Điều đặc biệt, sau khi người nhà
sửa lễ mang ra cầu khấn, chưa
hết ba tuần hương, bỗng anh tự
dưng cử động được chân tay. Chính niềm tin vào tâm linh từ
những câu chuyện thực tế
không thể giải thích nổi đó mà
du khách tứ phương khi nghe
đến câu chuyện tình hóa đá đền
Ông và động Bà, họ đến tế lễ ngày một nhiều. Khi cúng bái,
họ thường lễ bên người chồng -
đền Ông trước sau đó sang phía
người vợ - động Bà bên kia
sông. Bà Lê Thị Anh, người trông coi
đền Ông cho biết: “Đền Ông,
động Bà rất linh thiêng, mọi
người đều tôn thờ vào bảo vệ.
Thời gian trước đây có đối
tượng đến trộm đồ cúng, đồ đá trong đền, nhưng vài hôm sau
lại tự ý mang đến trả nguyên
chỗ cũ”. Nguồn: Nông thôn ngày nay

Chia sẻ:
Cùng Chuyên Mục :